Chấm dứt thoát vị đĩa đệm từ thảo dược tươi Việt Nam

Thoát vị đĩa đệm là bệnh lý phổ biến trong cuộc sống hiện nay. Chữa khỏi bệnh thoát vị đĩa đệm nhờ bài thuốc nam chiết xuất hoàn toàn từ thảo dược.

Chữa khỏi bệnh thoát vị nhờ thảo dược Việt Nam

Bài thuốc cổ phương trị bệnh thoát vị đĩa đệm có thành phần quen thuộc là hương nhu tía!

Chẩn đoán thoát vị đĩa đệm

Chẩn đoán thoát vị đĩa đệm Đau lưng có thể được gây ra bởi rất nhiều nguyên nhân khác nhau, vì thế nếu như cơn đau của bạn kéo dài hơn 1 tuần.

Các phương pháp điều trị bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng

Khi điều trị thoát vị đĩa đệm thắt lưng có thể lưu ý đến phương pháp điều trị nội khoa, tập thể dục điều trị.

Chấm dứt thoát vị đĩa đệm từ thảo dược tươi quen thuộc

Thoát vị đĩa đệm là bệnh lý phổ biến trong cuộc sống hiện nay. Chữa khỏi bệnh thoát vị đĩa đệm nhờ bài thuốc nam chiết xuất hoàn toàn từ thảo dược Việt.

Thứ Tư, 4 tháng 4, 2012

Bệnh thoái hóa đốt sống cổ và thoái hóa cột sống

Bệnh thoái hóa đốt sống cổ và thoái hóa cột sống


Do làm công việc đồng ruộng phải thường xuyên làm việc nặng nên ba mẹ tôi năm nay mới chỉ hơn 50 tuổi nhưng đã bị mắc phải chứng bệnh thoái hóa, ba tôi thì bị thoái hóa đốt sống cổ vì phải mang vác đồ nặng nhiều như các bao lúa, phân bón…, còn mẹ tôi làm công việc đồng ruộng nhiều phải cúi cả ngày nên cũng bị thoái hóa cột sống.



Lúc đầu ba má tôi chỉ thấy cúi người hơi đau một chút nhưng một thời gian sau cứ thấy đau dần và cảm giác gai buốt ở sống lưng và cổ. Rồi ba mẹ tôi đi khám thì được biết kết quả là bịthoái hóa đốt sống cổ và thoái hóa cột sống. Bác sĩ khuyên ba mẹ tôi nên kiêng làm việc nặng và chế độ ăn uống hợp lý. Sau thời gian đó ba mẹ tôi cũng uống thuốc và làm ít việc nặng hơn nhưng không bỏ hẳn việc.

Bệnh thoái hóa đốt sống cổ và thoái hóa cột sống xuất hiện ở người già

Ba mẹ tôi cũng đỡ đau hơn nhưng chỉ làm cố thêm một chút là lại đau thêm, thời gian gần đây thời tiết lạnh dần tôi thấy sức đề kháng trong cơ thể ba mẹ yếu hơn vì chỉ thay đổi thời tiết chút là mẹ tôi lại bệnh và cảm thấy đầu đau nhói từng cơn như có cái gì đó giật trong đầu. Ba mẹ tôi cũng uống kèm thuốc tây và các loại thuốc lá cây rừng nhưng bệnh diễn biến thất thường làm ba mẹ tôi thấy người mệt hơn.
Nhìn ba mẹ yếu dần mà tôi thương lắm nhưng tôi không biết nhiều về bệnh của ba mẹ nên không giúp được gì cho ba mẹ. Tôi cũng tìm kiếm trên mạng và các sách báo về cách chữabệnh thoái hóa này nhưng cách chữa đều không hiệu quả lắm khiến cả gia đình tôi đều lo lắng. Tôi viết bài chia sẻ lên đây mong được sự giúp đỡ của các bạn gần xa, mong các bạn có kinh nghiệm gì chia sẻ giùm tôi! Cảm ơn các bạn nhiều!

Thứ Hai, 2 tháng 4, 2012

Khái quát về viêm khớp dạng thấp

Viêm khớp dạng thấp là bệnh có biểu hiện viêm khớp và sự có mặt của yếu tố dạng thấp trong máu. Viêm khớp dạng thấp và là một bệnh tự miễn khá điển hình ở người, dưới dạng viêm mãn tính ở nhiều khớp ngoại biên với biểu hiện khá đặc trưng: sưng, đau khớp, cứng khớp buổi sáng và đối xứng hai bên. Ngoài ra, người bệnh còn có các biểu hiện toàn thân (mệt mỏi, xanh xao, sốt gầy sút…) và tổn thương các cơ quan khác.

1. Biểu hiện lâm sàn

Khi có các dấu hiệu lâm sàng nêu trên, người bệnh cần được gửi tới khám bác sĩ chuyên khoa khớp (Rheumatogist) càng sớm càng tốt. Bệnh nhân sẽ được làm các xét nghiệm và thăm dò cần thiết để chẩn đoán xác định, đánh giá tình trạng bệnh, tiên lượng bệnh và chọn lựa một chiến lược điều trị phù hợp để đạt hiệu quả cao nhất.


Các xét nghiệm và thăm dò cần thiết:
- Yếu tố dạng thấp (Rheumatoid Fator – RF) và /hoặc anti-CCP*
* Anti-CCP là một xét nghiệm ELISA, nhằm xác định IgG của một tự kháng thể trong huyết thanh hoặc huyết tương đặc hiệu với peptide được tổng hợp từ gan dạng vòng, cyclic citrullinated peptide – CCP, nó giúp cho chẩn đoán sớm bệnh VKDT – RA (2004)
- Tốc độ máu lắng (ESR) và/hoặc C-Reactive Protein (CRP).
- X quang khớp bị tổn thương (đặc biệt hai bàn tay)
- Đánh giá chức năng khớp.
- Đánh giá sức khỏe chung và khả năng làm việc của người bệnh.

2. Sinh bệnh học
Nguyên nhân của bệnh hiện còn chưa rõ, tuy nhiên bệnh được coi như là một bệnh tự miễn khá quan trọng và điển hình ở người. Nhiều bằng chứng cho thấy vai trò quan trọng của các đáp ứng miễn dịch cả dịch thể và miễn dịch qua trung gian tế bào, của các cytokines (Interleukine 1, TNF α), của các tế bào T, của yếu tố cơ địa (tuổi, giới, HLA), của yếu tố tăng trưởng nội sinh… trong cơ chế bệnh sinh khá phức tạp của bệnh. Để việc điều trị có hiệu quả cần phải nhắm vào một hay nhiều mắt xích cụ thể trong cơ chế bệnh sinh để cắt đứt hoặc khống chế vòng xoắn bệnh lý phức tạp của bệnh.

3. Tiêu chuẩn chẩn đoán
Cho đến nay cả thế giới còn sử dụng tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng bệnh Viêm khớp dạng thấp của ACR 1987 (American College of Rheumatology).
1. Cứng khớp buổi sáng (Morning siffness).
2. Viêm khớp/Sưng phần mềm (Arthritis/Soft tissue swelling) ở ít nhất 3 nhóm (trong số 14 nhóm khớp:khớp ngón gần bàn tay, khớp bàn ngón, khớp cổ tay, khớp khuỷu, khớp gối, khớp cổ chân, khớp bàn ngón chân 2 bên).
3. Viêm (Arthritis) các khớp ở tay: khớp ngón gần, khớp bàn ngón, khớp cổ tay.
4. Đối xứng (Symmetrical arthritis)
5. Nốt thấp (Rheumatic Nodules).
6. Tăng nồng độ yếu tố dạng thấp (Rheumatoid factor) trong huyết thanh *
7. Những biến đổi đặc trưng của bệnh trên X quang (Characteristic radiographic): vôi hình dải/sói mòn/khuyết xương ở bàn tay, bàn chân/hẹp khe khớp/dính khớp…

4. Dịch tễ học
Tỷ lệ mắc bệnh chung (Prevalence): 0,5 dân số người lớn.
Số người mới mắc bệnh hàng năm (Incidence): 25 – 30 người/100.000 dân/năm.
Khoảng 50% bệnh nhân bị ảnh hưởng chức năng nặng nề và bị giảm tuổi thọ
Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, nhiều nhất là tuổi 30 – 60.
Bệnh thường gặp ở nữ, tỷ lệ nữ/nam: 3/1
5. Tiên lượng
- Diễn tiến của bệnh rất khác nhau giữa các bệnh nhân.
- Sau khi khởi bệnh 10 năm: 10 – 15% bệnh nhân bị tàn phế, phải cần đến sự trợ giúp của người khác (Giai đoạn III & IV theo Steinbrocker).
- Tỷ lệ tử vong tăng ở những bệnh nhân sớm bị suy giảm chức năng vận động.
- Các yếu tố làm tăng tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân Viêm khớp dạng thấp gồm:
+ Bệnh lý tim mạch
+ Nhiễm trùng
+ Loãng xương
+ Các bệnh liên quan đến các thuốc kháng viêm Steroid và NSAIDs.
- Khả năng làm việc giảm, đặc biệt khi người bệnh trên 50 tuổi, lao động nặng.
- Tỷ lệ có các thay đổi đặc trưng của bệnh Viêm khớp dạng thấp trên X quang:
+ Sau khởi bệnh 2 năm: khoảng 50%
+ Sau khởi bệnh 5 năm: khoảng 80%.

CHIẾN LƯỢC ĐIỀU TRỊ VIÊM KHỚP DẠNG THẤP HIỆN NAY

1. Các điều trị không dùng thuốc:
- Giáo dục sức khỏe
- Tập luyện, chế độ ăn uống giầu vitamin và khoáng chất
- Duy trì vận động thường xuyên.
2. Nhóm Thấp khớp (Rheumatology team) gồm:
- Thầy thuốc gia đình và/hoặc Bác sĩ đa khoa khu vực
- Bác sĩ chuyên khoa khớp
- Điều dưỡng hoặc kỹ thuật viên vật lý trị liệu, phục hồi chức năng, y tế cộng đồng.
- Bệnh nhân và thân nhân bệnh nhân.
Có vai trò hướng dẫn, động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để người bệnh có một chế độ điều trị đúng nhất, đầy đủ nhất.
3. Các chiến lược thuốc điều trị bệnh VKDT (Strategies of drug treatment).
3.1. Lựa chọn đầu tiên (trong lúc chờ đợi chẩn đoán xác định của bác sĩ chuyên khoa khớp).
- Thuốc kháng viêm không có Steroid (NSAID)
- Và/hoặc thuốc giảm đau đơn thuần
- Tránh sử dụng Corticosteroid toàn thân vì: Gây khó khăn cho chẩn đoán và gây lệ thuộc thuốc (Cortico-dependent)
3.2.Khám chuyên khoa khớp:
. Khi chưa có chẩn đoán xác định: Bệnh nhân được theo dõi, điều trị triệu chứng bằng thuốc kháng viêm không có Steroid (NSAID) và làm tiếp chẩn đoán xác định.
. Khi chẩn đoán xác định Viêm khớp dạng thấp:
- Sử dụng thuốc chống thấp khớp thay đổi được bệnh (Disease Modifying AntiRheumatic Drugs – DMARD) phù hợp với mức độ bệnh, thể trạng bệnh nhân, hoàn cảnh kinh tế…
- Phối hợp điều trị triệu chứng lúc đầu (khi các thuốc DMARD chưa có tác dụng) bằng một thuốc kháng viêm NSAID hoặc Corticosteroid toàn thân (nếu biểu hiện viêm nặng nề và/hoặc không kiểm soát được bằng NSAID). Liều lượng, thời gian sử dụng, tương tác khi phối hợp thuốc kháng viêm phải được kiểm soát chặt chẽ, giảm liều và ngưng càng sớm càng tốt để tránh các tác dụng phụ khi dùng dài ngày (Loãng xương, nhiễm trùng, bệnh tim mạch, suy thận, viêm loét đường tiêu hóa, phụ thuộc corticosteroid…)
- Dùng Corticosteroid tại chỗ (khi có chỉ định) là một điều trị hỗ trợ tốt, có thể sử dụng để tránh hoặc giảm bớt việc dùng Corticosteroid toàn thân.
. Chọn lựa một thuốc chống thay đổi được bệnh (Disease Modifying Anti Rheumatic Drugs – DMRD) phù hợp:
- Bệnh nhân không có các yếu tố tiên lượng nặng, các thuốc được chọn là:
Sulfasalazine hoặc Hydroxychloroquine hoặc Methotrexate.
- Bệnh nhân có các yếu tố tiên lượng nặng (Sớm bị ảnh hưởng chức năng vận động, tổn thương lan rộng nhiều khớp, hoạt tính bệnh vừa hoặc cao, yếu tố dạng thấp dương tính…, các thuốc được chọn đầu tiên nên là Methotrexate. Các thuốc khác có thể chọn là: Sulfasalazine hoặc Cyclosprine.
- Bệnh nhân không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán Viêm khớp dạng thấp (Undifferentiated rheumatoid arthritis) cần được theo dõi chặt chẽ và việc dùng nhóm DMARD cần được cân nhắc và kiểm soát kỹ.
- Bệnh nhân có các biểu hiện ngoài khớp nặng nề và hệ thống cần có chỉ định dùng các thuốc Cyclophosphamide, Azathioprine… khi các điều trị bằng nhóm DMARD thất bại. Những trường hợp tổn thương hệ thống đe dọa tính mạng, thuốc có thể được sử dụng liều cao, đường tĩnh mạch (Intravenous pulse therapy).
. Điều trị triệu chứng (kháng viêm, giảm đau, giảm cứng khớp) trong giai đoạn đầu của điều trị, trong khi chờ đợi các thuốc DMAD có tác dụng (3 đến 6 tháng đầu) hoặc trong các đợt tiến triển (nếu có) của bệnh.
- Corticosterolid toàn thân nếu có biểu hiện viêm nặng nề và/hoặc không kiểm soát được bằng các thuốc kháng viêm không phải Steroid (NSAID).
Liều lượng 20 mg/hàng ngày, đường uống (Đôi khi phải dùng liều cao hơn, đường chích)
Giảm liều dần khi biểu hiện viêm được khống chế và ngưng càng sớm càng tốt để tránh các tác dụng phụ khi dùng dài ngày.
- Hoặc Corticosteroid tại chỗ, khi có chỉ định (tổn thương viêm khu trú ở một hoặc rất ít khớp, đã chắc chắn loại trừ các viêm khớp do vi trùng) là một điều trị hỗ trợ tốt, hiệu quả, giảm hoặc tránh bớt việc dùng Corticosteroid toàn thân.
- Hoặc một thuốc kháng viêm không steroid (NSAID). Ưu tiên nhóm COXIBs vì không hoặc ít có các tương tác bất lợi với các nhóm DMARD, đặc biệt Methotrexate.
. Điều trị một số nhóm bệnh nhân có nguy cơ (Risk – groups).
- Bệnh nhân có thai
* NSAID: Tránh sử dụng trong 3 tháng cuối của thai kỳ.
* Corticosteroid: có thể dùng trong suốt thai kỳ (nếu cần) nhưng chỉ dùng Prednisone, Prednisolone, Methylprednisolone.
* DMARD:
Có thể dùng nếu cần: Sulfasalazine, Hydroxycholoroquine, Cyclosporine.
Chống chỉ định:
Methatrexate (ngưng ít nhất 1 tháng trước khi có ý định có thai)
Cyclophosphamide (ngưng ít nhất 3 tháng trước khi có ý định có thai)
- Bệnh nhân đang cho con bú
* NSAID: có thể dùng Ibuprofen
* Corticosteroid: dùng liều thấp < 20 mg hàng ngày
* DMARD: Có thể sử dụng Hydroxychloroquine
Dùng nhưng thận trọng: Sulfasalazine
Chống chỉ định: tất cả các thuốc khác.
- Bệnh nhân có tuổi cần theo dõi sát và lưu ý các bệnh liên quan tới tuổi (chức năng gan, thận tim và huyết áp), tương tác thuốc, các tác dụng phụ của thuốc…
* NSAID: dùng liều thấp nhất có hiệu quả, chọn thuốc ít tác dụng phụ (ví dụ ức chế chọn lọc COX 2), dùng thêm thuốc giảm đau đơn thuần khi cần thiết.
* Corticosteroid: dùng liều thấp nhất có hiệu quả, dùng tại chỗ nếu có chỉ định, dùng thêm Calcium, Vitamin D, Calcitriol (Rocaltrol) để phòng ngừa loãng xương.
* DMARD: Sylfasalazine, Hydroxychloroquine và Methotrexate là các thuốc được chọn lựa.
- Bệnh nhi (Viêm khớp dạng thấp trẻ em – Juvennile Rheumatoid Arthritis)
* NSAID: Ibuprofen hoặc Nimesulide.
Có thể dùng thêm Paracetamol để tăng tác dụng giảm đau và hạ sốt.
* Corticosteroid: (Prednisone, Prednisolone, Methylprednisolone).
Liều 1,5 – 2 mg/kg/ngày khi có những biểu hiện viêm nặng nề, khó khống chế.
Thuốc cần nhanh chóng được giảm liều khi hiện tượng viêm được khống chế, thường được dùng “bắc cầu” trong lúc chờ đợi tác dụng của một thuốc DMARD.
Corticosteroid tại chỗ rất hiệu quả trong các thể viêm một hoặc rất ít khớp.
* DMARD: Methotrexate, Sunfasalazine Hydroxychloroquine.
* Globulin miễn dịch, liều cao, đường tĩnh mạch.
* Các thuốc ức chế miễn dịch dùng trong thể toàn thân nặng, đe dọa tính mạng.
Ví dụ: Methylprednisolone và Cyclophosphamide liều cao tĩnh mạch
Kết hợp Methotrexate đường uống.
. Điều trị phối hợp các DMARD được chỉ định khi một thuốc chưa đạt hiệu quả mong muốn. Các cách phối hợp:
- Methotrexate + Sunfasalazine
- Methotrexate + Hydroxychloroquine
- Methotrexate + Sunfasalazine + Hydroxychloroquine
- Methotrexate + Cyclosporine
- Methotrexate + Leflunomide
- Methotrexate + Mycophenolate Mofetil
- Methotrexate + anti TNF α hoặc anti IL 1.
Các phối hợp trên đều có thể kèm thêm Prednisolone (Prednisone hoặc Methylprednisolone) với liều < 7mg/hàng ngày (nếu cần).

ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM KHỚP DẠNG THẤP HIỆN TẠI VÀ TRONG TƯƠNG LAI
Những năm gần đây, đã có những hiểu biết sâu hơn về đáp ứng viêm và cơ chế hủy hoại tổ chức của bệnh VKDT. Tuy nhiên, nguyên nhân của bệnh, yếu tố khởi phát và duy trì sự tồn tại lâu dài của bệnh vẫn còn là ẩn số. Các kỹ thuật phân tử gần đây đã đặt ra khả năng có thể xác định các tập hợp tế bào (cell subsets), các dấu ấn bề mặt tế bào (cell surface markers), các sản phẩm tế bào (cell products)… tham gia vào đáp ứng viêm qua cơ chế miễn dịch liên quan đến bệnh VKDT. Các hiểu biết về cơ chế bệnh sinh của bệnh VKDT tuy còn chưa thật đầy đủ nhưng đã cung cấp khả năng tối ưu cho việc sử dụng các trị liệu đặc hiệu hơn, nhắm vào các đích đặc hiệu của các đáp ứng miễn dịch.
Các điều trị mới để chống hoặc làm chậm sự hủy hoại xương và sụn đều phải dựa trên cơ sở về cơ chế của các tổn thương này cũng như một cách nhìn lạc quan về hiệu quả của các chiến dịch phòng ngừa.

MỘT SỐ BIỂU HIỆN BỆNH SINH CỦA VIÊM KHỚP DẠNG THẤP:
Đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng sự xâm nhập các tế bào T kích thích kháng nguyên ở màng hoạt dịch gây nên tình trạng viêm mãn tính trong bệnh Viêm khớp dạng thấp.
Một số cặp allenes của phức hợp hòa hợp tổ chức chủ yếu (Major histocopatibility complex – MHC) như HLA-DRI và HLA-DR4 là cơ sở ban đầu dẫn đến bệnh VKDT các phân tử trong các tế bào mang kháng nguyên tương ứng với chúng (tế bào B, tế bào có đuôi gai (dendritic cells), đại thực bào hóa) đều biểu hiện các kháng nguyên peptides đối với các tế bào T.
Các tế bào viêm trong đó có tế bào T đi vào màng hoạt dịch thông qua lớp nội mạc trong của các mạch máu nhỏ, việc di chuyển này sẽ thuận tiện nhờ sức ép của các phân tử kết dính (leukocyte function-associated antigen-1-LFF-1) và phân tử kết dính giữa các tế bào 1 (intercellular adhesion molecule-1-ICAM-1).
Nitric oxide (NO) được sản xuất bởi mọi loại tế bào sau khi kích thích bằng các cytokines như interleukin 1 (IL-1), yếu tố hoại tử u (tumor necrosis factor α –TNF α), interferon γ (IFN γ). Nitric oxide làm tăng hoạt tính của các men Cyclo-oxydase 1 và 2 (COX 1 & COX 2) dẫn đến việc tăng sản xuất các Prostaglandins (PG). Nitric oxide cũng làm tăng sản xuất các gốc oxy tự do (Free hydroxyl radicals) và gây các tác động xấu tới chức năng của tế bào sụn trong bệnh VKDT. Chúng hoạt hóa men tiêu metalloprotein (metalloproteases), đảo lộn sự tổng hợp bình thường của các proteoglycans và collagen II, ức chế sản xuất prostaglandin E2, tăng sự chết tự nhiên của tế bào (apoptosis), mất điều chỉnh các chất ức chế thụ thể Interleukin 1 (IL-1 Ra).
HẬU QUẢ CỦA CÁC QUÁ TRÌNH VIÊM:
1.Sản xuất các globulin miễn dịch (yếu tố dạng thấp) gây hình thành các phức hợp miễn dịch làm hoạt hóa các bổ thể.
2.Tăng sinh tế bào hoạt dịch với việc sản xuất các men tiêu netalloprotein cơ bản (Matrix Metalloproteases-MMPs).
3.Hình thành các mạch máu mới (Neovascularisation) bởi các đại thực bào (macrophages) và các yếu tố tăng trưởng, các cytokines, các hóa chất ứng động… có nguồn gốc từ fibroblast.
4.Hình thành các pannus, một tổ chức mạch máu tân tạo, lấn sâu vào bề mặt sụn khớp và xương thông qua các phân tử kết dính.

CÁC ĐÍCH CỦA ĐIỀU TRỊ (THERAPEUTIC TARGETS)
1. Hướng vào các tế bào T (T cells) bằng cách sử dụng:
– Các kháng thể đơn dòng chống CD4 (Anti CD4, Monoclonal Antibodies-Mabs)
– Các kháng thể đơn dòng chống CD25 hay thụ thể của IL-2 (Anti CD25, Monoclonal Antibodies-Mabs).
– Các Vắc-xin với các thụ thể của tế bào lympho T (T Cell Recepters-TCRs).
– Các Vắc-xin với các tế bào lympho T bệnh lý tự thân.
2.Hướng vào các kháng nguyên của phức hợp hòa hợp tổ chức chủ yếu (Major histocopatibility complex-MHC) bằng vắc-xin với các peptides HLADR4 và HLADR1.
3. Hướng vào các Cytokine và Yếu tố hoại tử u (Tumor Necrosis Factor α) 
– Ức chế Interleukine 1 (IL-1) nhằm mục đích trung hòa và làm bất hoạt các IL1.
+ Chất ức chế thụ thể Interukin 1 người tái tổ hợp (Recombinant human IL-1 Receptor Antagonist – IL-1 Ra). Sản phẩm: Anakinra (Kineret) 2001.
+ Ức chế các thụ thể Interleukin 1 hòa tan của người tái tổ hợp (Recombinant human IL-1 R1 – 1L-1 R1).
– Ức chế Yếu tố hoại tử μ α (TNFα) bằng:
+ Các kháng thể đơn dòng kháng TNFα (Anti TNFα Monoclonal Antibodies-Mab).
+ Hỗn hợp giữa protein và thụ thể của TNF (TNF receptor fusion protein).
+ Hỗn hợp giữa thụ thể TNF R55 với Globulin miễn dịch G1 (TNF R55 – IgG1),
+ Kháng thụ thể TNF hòa tan của người tái tổ hợp.
Các sản phẩm đã có mặt trên thị trường
Etanercept (Enbret-Wyeth) 1998
Infliximab (Remicade) 1999
Abatacept (BMS) 2000.
Adalimummab (Humira – Abbott) 2000.
– Ribozome phản ứng với mRNA của TNFα để phá hủy tế bào TNFα trong tế bào.
– Sử dụng các Cytokines và các chất kháng Cytokines.
+ Interleukin 10 (IL-10) hạn chế tác dụng gây thoái biến chứng sụn của các tế bào đơn nhân (được gọi Interleukin kháng viêm), trong khi IL-4 lại làm tăng tác dụng này.
+ Interleukin 4(IL-4) có thể ức chế men COX 2mRNA, ức chế sự sản xuất các Cytokine viêm IL-1β, IL-6, IL-8 và Prostaglandin E2 từ các tế bào hoạt dịch.
+ Interleukin 13 để ức chế sản xuất các Cytokines tiền viêm.
– Interferon với các tác dụng chống virus, chống tăng sinh, chống viêm.
4. Hướng vào các phân tử kết dính (Adhesion molecules)
Dùng kháng thể đơn dòng chống phân tử kết dính 1 giữa các tế bào (Anti Intercellular Adhesion molecele 1 Monoclonal Antibodies-ICAM Mab) để ngăn chặn sự tràn các tế bào viêm vào tổ chức khớp và làm giảm các đáp ứng viêm.
5. Cấy ghép các tế bào gốc máu tự thân (Autologous hematopoietic stem cell transplantation – ASCT) nhằm thay đổi các yếu tố di truyền của bệnh.
6. Các liệu pháp điều trị Gen với mục đích tăng sản xuất các phân tử kháng viêm ngay tại chỗ có phản ứng viêm như màng hoạt dịch. Các phân tử này cũng là các phân tử ức chế miễn dịch như IL-1Ra, sTNFR, sIL-1R, IL-10, IL-4, IL-13.
7. Phong bế chức năng tác động
8. Ức chế các men tiêu metalloprotein cơ bản (Matrix Metalloproteinases – MMPs)bằng Retinods và các dẫn xuất của Tetracycline (Doxycycline, Minocycline)
9. Các nguyên lý điều trị mới nhằm cải thiện hoạt động của tế bào
– Cản trở hoạt động của tế bào T thông qua tương tác giữa phân tử B7 và phân tử CD28(B7/CD28 interaction).
– Ức chế chức năng của tế bào T bằng cách ngăn cản sự kết hợp giữa phân tử CD28 và phân tử B7 trong các tế bào hiển thị kháng nguyên (antigen-presenting cells-APC) bởi cấu trúc MuCTLA-4Ig (MuCTLA-4Ig construct).
– Dùng kháng gp-39 MAb (Anti gp-39 MAb) để ức chế miễn dịch bằng cách chống sự tương tác giữa gp-39 với CD40.
– Giảm quá trình chết tự nhiên của tế bào (Programmed cell death/apoptosis) trong các khớp viêm.
10. Các biện pháp không sinh học mới có nhiều triển vọng:
- Cyclosporine: ức chế chức năng của Lympho T.
- Rapamycin: ức chế chức năng của Lympho T và Lympho B.
- Leflunomide: ức chế chức năng của nhiều loại tế bào do ức chế tổng hợp pyrimidine.
Các thuốc này đều ảnh hưởng mạnh đến các đáp ứng miễn dịch nên sẽ có hiệu quả tốt nhất khi sử dụng sớm, có thể kết hợp với các thuốc DMARD để tăng hiệu lực điều trị bệnh VKDT trong tương lai.
- Mycophenolate Mofetil ức chế chức năng của Lympho T và B do ức chế men Inosine monophosphate dehydrogenase, có vị trí trung tâm trong tổng hợp purines.
- Thailidomide ức chế mRNA của TNFα vì thế có thể có tác dụng trong các bệnh tự miễn như VKDT.
- Reumacon (CPH-82) là một glycoside bán tổng hợp và dẫn chất của podophyllum, đang được đánh giá lâm sàng trong các thử nghiệm so sánh với Placebo và Auranofin trong điều trị VKDT.
- Các thuốc kháng viêm mới: ức chế chọn lọc men COX2, các thuốc kháng viêm mới (các thuốc kháng viêm cổ điển được thay đổi cách bào chế, kết hợp thay đổi cách hấp thu… để giảm bớt các tác dụng phụ).

KẾT LUẬN
Dự đoán các phương thức điều trị tương lai cho một bệnh còn chưa hoàn toàn biết rõ nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh như bệnh VKDT không phải là một việc dễ dàng. Tuy nhiên việc sử dụng thuốc chống thấp khớp cải thiện bệnh (DMARD) cổ điển (đơn độc hoặc phối hợp với nhau) hoặc phối hợp với các thuốc mới như Cyclosporine, Mycophenolate Mofetil, Leflunomide… đã trở thành những điều trị chủ yếu cho bệnh VKDT. Những năm gần đây, những biện pháp điều trị sinh học kháng lại yếu tố hoại tử u α (TNFα), kháng IL 1… đã được đưa vào điều trị với kết quả đáng khích lệ. Các thuốc này, hoặc dùng đơn độc hoặc kết hợp với Methotrexate sẽ rất hiệu quả với bệnh VKDT, tuy nhiên việc kết hợp này làm tăng chi phí điều trị rất nhiều và có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng nặng nên cần rất thận trọng khi chỉ định và người bệnh càng cần được theo dõi sát…

Thứ Bảy, 31 tháng 3, 2012

6 thực phẩm ngăn ngừa viêm khớp khi trời lạnh

Khớp gồm nhiều thành phần khác nhau: sụn khớp, bao hoạt dịch, dây chằng, cơ và gân cơ. Sụn khớp hay đầu xương bị tổn thương sẽ gây tăng ma sát hai đầu xương, dẫn đến tiến trình viêm. Viêm khớp còn do chấn thương, sử dụng quá mức ổ khớp, do bệnh lý hoặc do tuổi già (lão hoá).

Hiện tượng viêm từ mức độ vi tế sẽ trở nên thấy được với những triệu chứng: sưng, đỏ, nóng, đau, cứng khớp và giới hạn biên độ hoạt động. Càng bị đau, bệnh nhân càng có khuynh hướng giới hạn cử động, cơ càng bị co rút dẫn đến cứng khớp; và vòng lẩn quẩn khiến viêm khớp nặng hơn!

Để ngăn ngừa, chống lại viêm khớp các chuyên gia khuyên bạn nên dùng 6 loại thực phẩm dưới đây hàng ngày:

1. Đậu tương và các sản phẩm của đậu tương

Đậu tương và các sản phẩm của nó thường được coi là thực phẩm sức khỏe tốt nhất. Đậu tương có chứa một số lượng lớn isoflavone đậu nành, vitamin E và canxi. Họ không chỉ có thể bảo vệ tim mạch, mà còn có thể tăng cường xương, và hiệu ứng này thậm chí có thể được so sánh với sữa. Do đó, các sản phẩm đậu tương có thể giúp ngăn ngừa viêm khớp.

2. Ớt ngọt

Ớt ngọt có chứa một hàm lượng cao vitamin C, sử dụng hàng ngày có thể đáp ứng được yêu cầu của cơ thể con người. Ngoài ra, ớt ngọt cũng là một nguồn tuyệt vời của vitamin B6 và axit folic. Các vitamin có hiệu quả có thể giảm nhẹ cơn đau bị gây ra bởi viêm khớp.

3. Chuối

Chuối không chỉ là trái cây có kali phong phú nhất mà còn là một loại thực phẩm để điều trị viêm khớp. Chuối không chỉ chứa nhiều vitamin B6, axit folic và vitamin C, và rất tốt cho tiêu hóa. Hơn nữa, chuối cũng là nguồn chính của chất xơ hòa tan, có tác dụng tốt trong việc ngừa táo bọn, đau do viêm khớp.

4. Trà xanh

Trà xanh có chứa một lượng lớn chất chống oxy hóa polyphenol. Nghiên cứu cho thấy rằng trà xanh có hiệu quả có thể làm giảm viêm khớp dạng thấp. Trong một nghiên cứu, các nhà khoa học sử dụng trà xanh để điều trị viêm khớp, và kết quả cho thấy rằng trà xanh có thể làm giảm 505 tỷ lệ mắc bệnh đau khớp.

5. Cá hồi

Cá hồi là nguồn quan trọng nhất của chất béo lành mạnh, đó là giàu axit béo Omega-3. Không giống như cá khác, nó không bị nhiễm độc thủy ngân. Hơn nữa, cá hồi còn chứa nhiều canxi, vitamin D và axit folic. Ngoài việc điều trị viêm khớp, nó cũng có thể bảo vệ hệ thống tim mạch, làm giảm sự hình thành huyết khối, sửa chữa các động mạch bị hư hỏng, và hạ huyết áp.

6. Pho mát

Tất cả các giống pho mát rất giàu canxi, trong đó có một tác dụng bảo vệ xương, cơ và tổ chức doanh. Ngoài ra, pho mát cũng là một nguồn quan trọng của vitamin B6 và axit folic.

Thực tế, để giảm đau do viêm khớp việc thay đổi lối sống mà không cần dùng thuốc là phương pháp điều trị được ưa chuộng đối với bệnh viêm xương khớp và các dạng viêm khớp khác.

Đối với viêm khớp thì tập thể dục là cần thiết để duy trì khớp khỏe mạnh, giảm đau, giảm hiện tượng cứng khớp, cải thiện sức mạnh của cơ và xương. Mỗi cá nhân cần được thiết kế chương trình tập riêng bởi bác sĩ vật lý trị liệu, bao gồm: các bài tập vận động về độ mềm dẻo, tăng trương lực cơ, các bài tập về sức bền. Các nhà vật lý trị liệu cũng có thể áp dụng những liệu pháp nóng, lạnh khi cần thiết và có thể cố định bạn bằng những thanh nẹp hay các thiết bị chỉnh hình khác để giúp nâng đỡ và điều chỉnh khớp. Điều này đặc biệt cần thiết đối với viêm khớp dạng thấp. Các nhà vật lý trị liệu cũng có thể áp dụng các liệu pháp bằng nước, mát-xa bằng nước đá, hoặc kích thích các dây thần kinh qua da.

Nghỉ ngơi cũng quan trọng như tập thể dục. Nên ngủ 8 - 10 tiếng mỗi đêm và ngủ trưa. Ngoài ra, chế độ ăn uống hàng ngày cần đảm bảo vitamin và khoáng chất đặc biệt là những chất chống ôxy hóa như vitamin E. Các chất này có trong rau và trái cây.

Thứ Tư, 28 tháng 3, 2012

Cách phòng bệnh viêm khớp khi trời nồm

Nguyên nhân gây bệnh viêm khớp là do thời tiết ẩm thấp, tiếp xúc (lao động, nằm ngồi…) nơi ẩm ướt, hoặc làm việc mệt nhọc, gặp mưa rét làm chính khí hư yếu và 3 thứ khí gồm: Phong, Hàn, Thấp thừa cơ xâm nhập vào cơ thể, lưu lại ở kinh lạc, gân cơ, xương khớp, khiến khí huyết không lưu thông được mà sinh bệnh.

Người bệnh có cảm giác đau tăng lên khi trời lạnh, ẩm ướt và giảm đi khi trời nóng… Nếu để bệnh lâu sẽ khiến các khớp ngón tay, ngón chân to, cứng, hạn chế vận động, tổn thương tâm, can, thận, khí huyết, mất ngủ…

Theo BS Trần Văn Bản, tuy thức ăn không thể thay thuốc, nhưng ăn uống chọn lọc sẽ giúp giảm viêm, giảm đau khớp, rút ngắn thời gian phải dùng thuốc.

Có nhiều món ăn tốt cho người bị khớp như: Đu đủ, dứa, chanh, bưởi có men kháng viêm, sinh tố C giúp kháng viêm. Các hoa quả giàu vitamin C khác như dâu tây, mâm xôi, đào, xoài, tảo bẹ, nghệ, nấm, trà xanh… cũng giúp kháng các phản ứng viêm.

Trời nồm ẩm khiến căn bệnh khớp tái phát đau nhức

Một số thảo dược như húng quế, húng tây, ớt, quế, bạc hà, mùi tây, đinh hương, các loại gia vị… giúp chống lại những phản ứng có hại. Quả bơ, cà rốt, khoai lang giúp kháng ôxy hóa, bảo vệ bao khớp và đầu xương. Sữa đậu nành, đậu hũ, hạt bí chống dị ứng, cung cấp chất vôi để bảo vệ đầu xương khi độc chất xói mòn trong ổ viêm…

Các ngũ cốc như gạo lứt, lúa mỳ, lúa mạch đen, đậu nành và các loại rau xanh (súp lơ xanh, cải bắp, cải xanh, tỏi, gừng, các loại đậu xanh, rau bina, tỏi tây, cây ô liu, hạt mầm)… có đặc tính chống bệnh tật, tăng cường hệ miễn dịch, kháng ôxy hóa, giàu năng lượng. Súp lơ xanh giàu vitamin K, C giúp xương khớp chắc khỏe. Cà chua làm bớt đau khớp (hạt cà chua giảm đau, chống viêm khớp).

Khi đau khớp, viêm khớp cần tránh ăn các thức ăn nhiều chất phốt-pho (có trong thịt, phủ tạng, thịt đã qua chế biến), thịt đỏ, sản phẩm bơ sữa vì tuy giàu protein, vitamin, khoáng chất nhưng lại quá nhiều chất béo làm tăng viêm, giảm canxi và tình trạng bệnh xấu đi. Không nên ăn ngô, sản phẩm bơ sữa đã qua chế biến, đồ ăn nhanh, thức ăn sẵn, đồ đông lạnh, thức ăn chiên rán kỹ vì dễ bị dị ứng, viêm nặng hơn.

Hạn chế bánh kẹo, đồ uống ngọt có nhiều đường, phốt pho vì dễ tăng viêm tấy. Các thực phẩm chất béo cao, hải sản (sâm, tảo biển, cá biển, tôm biển…), các sản phẩm quá chua quá mặn cũng không nên ăn vì sẽ tăng gánh nặng cho khớp.

Theo BS Phan Dung, Trung tâm Tư vấn sức khỏe người cao tuổi (Hà Nội), miền Bắc hiện đang mùa nồm ẩm, dễ sinh đau khớp. Do đó rất cần giảm độ ẩm thấp trong phòng đề phòng phát sinh bệnh lúc này mỗi gia đình có thể tự sắm cho mình một chiếc máy hút ẩm dân dụng giá không quá đắt và rất hữu ích

. Khi đang đau không nên ăn đồ lạnh, cá đồng, baba, cà pháo vì gây nhức xương khớp. Nên ăn những món có gia vị xương xông, lá lốt (chả xương xông, lá lốt, chuối ốc, đậu phụ, bò cuốn lá lốt…) để phòng bệnh. Nên dùng thuốc bổ sung canxi, vitamin nhưng phải có bác sĩ chỉ định cụ thể cho từng bệnh khớp.

Cách giảm đau tức thời

- Khi bị sưng đau khớp nên dùng túi chườm nóng, hay tắm nóng 15-20 phút/lần, 3 lần/ngày sẽ giúp giảm triệu chứng đau.

- Xoa bóp rượu tỏi vào chỗ đau vì tỏi là kháng sinh thực vật, nhiều tinh dầu làm tiêu viêm, giảm sưng tấy rất tốt.

- Đau xương khớp do phong hàn, nên rang muối hột cho khô, sau đó cho thêm nắm ngải cứu, cúc tần với dây tơ hồng vào rang tiếp cho héo rồi đổ vào túi vải dày, chườm bó vào chỗ đau, giảm đau rất hiệu quả

Chủ Nhật, 25 tháng 3, 2012

Khí công điều trị viêm khớp dạng thấp

Phất thủ liệu pháp. Phất thủ liệu pháp còn gọi là Dịch cân kinh với ý nghĩa là thay đổi gân cốt nên có thể được vận dụng để điều trị bệnh thấp khớp.

Phất thủ liệu pháp là một phương pháp khí công đơn giản, có tác dụng làm cho Dương giáng, Âm thăng, tăng cường nội khí và cải thiện lưu thông khí huyết. Tác dụng trực tiếp nhất của Phất thủ liệu pháp là gia tăng nhu động ruột, tăng cường khả năng giải độc, cải thiện khí hóa của Tỳ Vị và kích hoạt chân hỏa ở Trường cường để gia tăng Dương khí tán hàn, trừ thấp. Trong cơ thể con người, các khớp có hình dạng (khớp) và công năng (tiếp hợp) giống nhau nên có tương quan và tác động lẫn nhau về mặt khí hoá.

Do đó một khớp bị thoái hoá có khuynh hướng dẫn đến thoái hoá dần các khớp khác. Ngược lại, khi thực hành khí công, việc chuyển động linh hoạt và liên tục 2 khớp vai và 2 khớp cổ tay lâu dài có tác dụng hoạt hoá toàn bộ các khớp qua đó sẽ ảnh hưởng tích cực đến bệnh viêm khớp. Ngoài ra, giống như nhiều phương pháp khí công khác, Phất thủ liệu pháp còn có tác dụng tăng cường chức năng của các cơ quan và điều hoà khí hoá giữa các phủ tạng qua đó có thể điều chỉnh tình trạng “tự miễn dịch” trong các chứng viêm khớp mãn tính.

Thực hành: Đứng thẳng, hai chân dang ra song song ngang vai. Các ngón chân bám chặt mặt đất. Bụng dưới hơi thót lại. Ngực hơi thu vào. Vai xuôi tự nhiên. Hai mắt khép nhẹ. Đầu lưỡi chạm nướu răng trên. Tâm ý hướng vào Đan điền. Hai cánh tay, bàn tay và ngón tay duỗi thẳng tự nhiên. Hai cánh tay hơi cong ở khuỷu tay. Đưa hai cánh tay về phía trước động thời hít vào. Dùng lực vẩy hai cánh tay ra phía sau đến hết tầm tay đồng thời với thở ra và nhíu hậu môn lại. Khi hết tầm tay ra phía sau thì hai cánh tay theo đà của luật quán tính sẽ trở về phía trước, đồng thời với hít vào. Một lần hít vào và một lần thở ra là một cái lắc tay. Làm liên tục nhiều cái. Để chữa bệnh cần thực hành mỗi lần từ 800-1000 cái. Mỗi ngày 2 lần. Động tác lắc tay cần phải nhẹ nhàng, linh hoạt. Không cần dùng sức mạnh để cố vẫy tay ra phía sau mà chỉ cần dùng sức bình thường ứng với nhịp thở điều hòa để có thể làm được nhiều lần. Việc nhíu hậu môn và bám các đầu ngón chân xuống đất cũng vậy. Chỉ cần dùng sức vừa phải nhằm bảo đảm tâm lý thoải mái và thể lực dồi dào để có thể thực hành hàng ngàn cái mỗi lần.

Thứ Năm, 22 tháng 3, 2012

Phòng trị bệnh viêm khớp ở mọi lứa tuổi

O tre em, benh xuong khop rat da dang va co nhung dac diem rieng, co the ke ra nhu: thap khop cap, viem khop thieu nien, viem cot song dinh khop, viem khop mu do vi khuan lao, di dang cot song, coi xuong...

Mot so benh xuong khop co tinh chat gia dinh. Loi song cua cha/me dong vai tro quyet dinh suc khoe cua con cai. Neu cha/me hut thuoc la uong ruou nhieu, mac cac benh cam cum do virus, hay dung thuoc khong hop ly trong thoi ky mang thai co the dan toi su xuat hien nhung di tat co xuong khop o con cai cua ho.

Tre em co he mien dich chua hoan thien thuong mac cac benh tai mui hong nhu viem hong hat, viem amidan, viem xoang, viem mu ngoai da. Do chinh la dieu kien thuan loi de vi khuan xam nhap vao co the gay ra nhieu benh o khop: thap tim, viem khop nhiem khuan... Phong ngua cho tre la nen dieu tri kip thoi va dut diem cac nguyen nhan nhiem khuan tren.

Dinh duong dong vai tro rat quan trong trong xuat hien benh ly co xuong khop. Voi tre em, co the can rat nhieu canxi, Vitamin D, protein va cac chat khac de xay dung khung xuong. Do vay, neu che do an uong khong du chat va so luong thi tre de bi suy dinh duong, dan den benh coi xuong.

Ngoai ra viec mang vac nang, ngoi sai tu the ngoi lau ngay... cung la mot nguyen nhan pho bien, gay lech vai, ton thuong xuong song hoac gu, cong, veo cot song...

Doi voi do tuoi trung nien, nguyen nhan chu yeu gay ra gay xuong la do chan thuong, thoai hoa khop, benh gout, loang xuong giai doan som. Ngoai nguyen nhan do sinh ly co the theo lua tuoi thi che do an uong khong khoa hoc cung la tac nhan gay hai ve xuong khop. Mot so nguoi dau nhuc do xuong khop co nang thuong hay tu y uong thuoc de giam dau cung la nguyen nhan gay hu xuong va thoai hoa khop. De phong ngua benh, can kieng cu, tiet che, dieu do trong an uong.

Doi voi nguoi tren 60 tuoi, ty le mac benh xuong khop len toi 60%. Do la thoai hoa khop, loang xuong, gay co xuong dui, dau cot song that lung, gut, ung thu xuong... Cang ve gia chat luong xuong cang yeu dan, vo xuong khong chac chan nhu luc tuoi tre, nen rat de gay co xuong dui khi co mot sang chan nhe. Bien dang cac khop xuong lau ngay co the gay thoai hoa tao hinh anh gai xuong hoac mot bien dang bat thuong co the gay ung thu xuong voi su dau nhuc dai ngay...

De phong ngua, nen co su tam soat dinh ky moi 6 thang voi kiem tra tong quat co su huong dan cua bac si chuyen khoa. Ngoai ra can co mot che do an uong, sinh hoat lanh manh, ket hop voi che do thuoc men phu hop voi dac diem benh ly cua nguoi cao tuoi.

Thứ Hai, 19 tháng 3, 2012

Bệnh viêm đa khớp dạng thấp và cách điều trị

Viêm đa khớp dạng thấp là 1 bệnh viêm khớp mãn tính, biểu hiện của bệnh là sưng nóng đỏ ở các khớp đặc biệt là các khớp nhỏ như khớp bàn tay, ngón tay, bàn chân. Khi bị viêm khớp dạng thấp, bệnh nhân không những bị giới hạn cử động hàng ngày mà còn có thể bị tổn thương các cơ quan khác trên cơ thể như các bệnh về tim, phổi, gan, thận…Vậy viêm khớp dạng thấp là gì? Tại sao nó lại có sức tàn phá đến thế?

Cứng khớp buổi sáng là triệu chứng thường gặp trong Viêm khớp dạng thấp, có thể kéo dài trên 1 giờ. Một số bệnh lý khác cũng có thể gây cứng khớp buổi sáng như thoái hóa khớp, nhưng thường không kéo dài như Viêm khớp dạng thấp, mà chỉ khoảng dưới 30 phút.

Nguyên nhân gây viêm khớp dạng thấp?

Hệ thống miễn dịch của cơ thể chúng ta gồm nhiều loại tế bào khác nhau giúp cơ thể chống lại các tác nhân gây hại như virus, vi khuẩn, nấm, v.v. Ở những bệnh nhân Viêm khớp dạng thấp, hệ thống miễn dịch hoạt động quá mức, tự tấn công, chống lại các tế bào và các cơ quan của cơ thể, dẫn tới các biểu hiện của bệnh.

Do đặc điểm này, Viêm khớp dạng thấp được xếp vào nhóm bệnh tự miễn, tức cơ thể tự tạo kháng thể chống lại các thành phần trong cơ thể.

Chính xác nguyên nhân nào khiến hệ miễn dịch rối loạn và bắt đầu tấn công các mô khỏe mạnh trong Viêm khớp dạng thấp vẫn chưa được biết rõ.

Tuy nhiên một số yếu tố được tìm thấy có vai trò quan trọng trong bệnh sinh của Viêm khớp dạng thấp, như yếu tố môi trường và di truyền. Các nghiên cứu tìm thấy có mối tương quan giữa Viêm khớp dạng thấp với một số tác nhân gây bệnh như vi trùng hoặc virus.

Ai là dễ bị mắc bệnh?

Khoảng 0,5% đến 1,5% dân số trên thế giới bị Viêm khớp dạng thấp. Viêm khớp dạng thấp có thể xảy ra ở tất cả các chủng tộc và tất cả các lứa tuổi, tuy nhiên lứa tuổi thường bị bệnh nhiều nhất là 30-50. Nữ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn nam gấp 2 tới 3 lần.

Viêm khớp dạng thấp có khi khó phát hiện vì bệnh có thể bắt đầu bằng những triệu chứng mơ hồ, như đau nhức khớp hoặc cứng khớp vào buổi sáng. Tuy nhiên, nhiều bệnh viêm khớp khác cũng có thể có triệu chứng tương tự.

X-quang khớp thường không tìm thấy triệu chứng bất thường trong giai đoạn đầu của bệnh. Không thể chẩn đoán Viêm khớp dạng thấp dựa trên một triệu chứng lâm sàng, hoặc một kết quả xét nghiệm, mà phải là tổng hợp của tất cả các yếu tố đã nêu trên.

Vì vậy cần thiết phải có ý kiến của bác sĩ chuyên khoa để có được chẩn đoán chính xác của Viêm khớp dạng thấp và có kế hoạch điều trị phù hợp.

Cách điều trị viêm khớp dạng thấp mới

Hiện nay, điều trị chủ yếu theo hướng làm giảm các cơm đau khớp, chống viêm, kiềm chế sự tiến triển xấu của bệnh và giúp duy trì hoạt động của khớp.Các thuốc Tây thường được sử dụng để điều trị bệnh viêm khớp gồm các thuốc giảm đau, chống viêm: Korulac, Doxicyclin, Efferalgan, Fenalgic, Ibuprofen, Profenid …hoặc có thể dùng hỗn hợp: Hydrocortisol, Novacain, Vitamin B12 ( được sử dụng theo đường uống hoặc tiêm trực tiếp vào khớp đau). Các thuốc này rất kích ứng với dạ dày và thận, nếu sử dụng lâu ngày sẽ gây đau dạ dày và hại thận. Các thuốc này chống chỉ định với các bệnh nhân bị bệnh dạ dày, tá tràng, suy thận. Chính vì điều này trong các đơn thuốc điều trị bệnh viêm khớp thường kèm theo nhóm thuốc về đường tiêu hóa như: Medoprazole, Salazopyrine, Borini-K... Nhưng theo thời gian, thì bệnh vẫn tiến triển và để lại biến chứng rất nặng là cho người bệnh như dính khớp và biến dạng khớp ... 

Với những bệnh nhân bị bệnh viêm khớp dạng thấp thì tốt nhất nên điều trị bằng Đông y  vì thuốc đông y đi vào điều trị căn nguyên sinh ra bệnh nên  mới tái tạo được các khớp bị tổn thương, và duy trì được hoạt động của khớp. Vì bệnh này là bệnh tự miễm nên phải uống thuốc trong thời gian dài vì vậy uống thuốc đông y rất an toàn cho người bệnh, nó không gây ảnh hưởng đến dạ dày và thận ...